Social Loafing – 1+1 < 2 hay là cha chung không ai khóc

Năm 1913, Maximilian Ringelmann, một kỹ sư người Pháp, trong quá trình nghiên cứu năng lực kéo của ngựa đã đưa ra một kết luận đó là khi cho hai con ngựa cùng kéo một đồ vật, thì lượng năng lượng cả hai con bỏ ra sẽ ít hơn so với việc mỗi con kéo riêng lẻ.

Khi áp dụng nghiên cứu tương tự cho con người, Maximilian cũng nhận thấy điều tương tự. Khi nhiều người đàn ông cùng tham gia vào cuộc thi kéo co thì tổng lực mà cả đội cùng bỏ ra sẽ ít hơn lực của từng cá nhân khi kéo riêng lẻ hết sức và cộng lại.

Thuật ngữ cho tình trạng này được gọi là “Social loafing” hay nói nôm na là “Cha chung không ai khóc”.

Tình trạng này xảy ra ở những tổ chức, những hoạt động trong đó nỗ lực của cá nhân là khó nhận thấy, và sẽ chìm lẫn trong nỗ lực của cả tập thể. Nếu tổ chức đó được định hướng một các hoàn hảo thì có thể là các cá nhân sẽ cố gắng cống hiến hết sức mình, nhưng thực tế điều này là rất khó. Tình huống thường thấy là các cá nhân sẽ chỉ phấn đấu một phần sức lực của mình, vì họ nghĩ rằng “người khác lo đủ rồi”.

Bài viết liên quan: Social Proof

Information Bias – Biết nhiều chưa hẳn đã tốt

Hồi còn đi học, nhớ có một lần mình và thằng bạn cùng bạn cùng làm bài kiểm tra trắc nghiệm 15′ sinh học. Nếu so mình với hắn thì mình thuộc diện giỏi toán hơn, còn hắn lại giỏi môn sinh hơn. Hắn học bài rất tốt, hơn mình rất nhiều đặc biệt là môn này vì hắn muốn học làm bác sĩ sau này. Nhưng kết quả bài kiểm tra đó mình lại cao điểm hơn hắn. Và điều thú vị ở đây chính là khi mình cùng hắn thảo luận về kết quả, có vài câu hỏi mình trả lời đúng là vì mình chỉ biết một đáp án duy nhất, và tình cờ đó là đáp án chính xác. Còn hắn, do học nhiều hơn nên ngay cả những đáp án “gài” của cô hắn cũng cân nhắc vào, từ đó dẫn đến lựa chọn sai.

Một ví dụ khác, chắc các bạn cũng không ít lần gặp phải tình huống phải đưa ra một quyết định nào đó trong cuộc sống, và bạn muốn tìm hiểu thông tin để hiểu rõ và ra quyết định tốt hơn. Nhưng trong một số trường hợp, càng có nhiều thông tin thì bạn lại càng cảm thấy rối, càng khó ra quyết định, dẫn đến quyết định sai lầm.

Có một thuật ngữ ám chỉ chung tình trạng này, đó là Information Bias, một loại ảo tưởng nghĩ rằng càng có nhiều thông tin thì sẽ càng làm cho quá trình ra quyết định được chính xác hơn. Nhưng thật ra đôi khi lại ngược lại.

Để ra quyết định đúng, quan trọng không phải là có nhiều thông tin, mà điều quan trọng là “chất lượng” của nguồn thông tin bạn có. Và càng quan trọng hơn nữa là bạn phải có được những kỹ thuật xử lý, tiêu hoá những thông tin mình tiếp cận được để biến nó thành hữu ích cho mình.

Confirmation Bias – Định kiến

Định kiến là khi chúng ta đã có một sự phán xét nào đó trong đầu, khi có những thông tin mới đến thì thay vì tự nhìn nhận lại những suy nghĩ của mình là đúng hay sai, chúng ta chỉ lưu ý đến những thông tin nhằm xác nhận định kiến của mình.

Ví dụ như chúng ta hay có một vài định kiến phổ biến như “sinh viên trường đó rất giỏi”, “dân thành phố thì phải giỏi tiếng anh hơn dân thành thị”, “thằng đó rất hay nói dối”, “làm việc trong nhà nước thì thể nào cũng quan liêu”, “người Trung Quốc thiếu lễ nghi”,… Những quan điểm này có thể đúng, cũng có thể sai, tuy nhiên điều mình muốn nhấn mạnh ở đây, đó là khi chúng ta bị những quan điểm này lấn át, khiến chúng ta phán xét những người chúng ta tiếp xúc không phải bằng cảm nhận cá nhân mà lại bằng những định kiến thì sẽ thật không công bằng.

Mình thấy có một vài nguyên nhân dẫn đến định kiến mà mình có thể nghĩ đến.

Nguyên nhân thứ nhất đó là do chúng ta “nghe”, “đọc”, “biết” những thông tin về một người/sự vật/hiện tượng nào đó trước khi thực sự được tiếp xúc. Việc biết một cách gián tiếp dẫn đến việc chúng ta tự xây dựng một hình dung về người/vật đó từ trước. Cho đến khi chúng ta thực sự tiếp xúc với người/sự vật/hiện tượng đó thì chúng ta lại dùng những hình dung trong đầu áp đặt lên người/sự vật/hiện tượng đó, từ đó dẫn đến định kiến.

Nguyên nhân thứ hai có thể là do chúng ta nghe một ai đó đưa ra những nhận xét về người/sự vật/hiện tượng đó từ trước. Và chúng ta tin vào nhận xét đó, biến nó thành nhận định của mình mà không cần kiểm chứng.

Nguyên nhân thứ ba là do chúng ta khái quát hoá từ trải nghiệm của mình. Giống như chúng ta tiếp xúc với 2-3 người đến từ Pháp và cảm thấy họ thật là tử tế và nhẹ nhàng, thế là chúng ta tự quy nạp cho mình một ý nghĩ là người Pháp thật tử tế, …

… và những nguyên nhân khác.

Định kiến là một từ mang ý nghĩa tiêu cực với bản thân mình, bởi vì mình tin rằng định kiến thường đi kèm với tư duy đóng (fixed mindset). Nó sẽ bị giới hạn rất nhiều bởi kiến thức và thông tin của một người có thể tiếp thu được. Cuộc sống cũng thay đổi từng ngày, tự giới hạn mình bằng những định kiến cá nhân cũng giống như chúng ta tự chui vào cái vỏ ốc của chính mình và tự nghĩ rằng mình đã hiểu cả cuộc đời.

Mà cuộc đời thì đa dạng lắm thay.

Một sơ đồ đơn giản nhưng hiệu quả để hình dung được con đường đi đến sự khôn ngoan:

  • Dữ liệu (Data) là những thứ chúng ta cóp nhặt được.
  • Khi dữ liệu được phân loại, sắp xếp, đánh nhãn, chúng ta có thông tin (information).
  • Khi kết nối thông tin lại với nhau, chúng ta có được kiến thức (knowledge).
  • Nhìn ra được những kiến thức quan trọng và cốt lõi, ta thu được insight.
  • Nhìn ra được những điều đơn giản từ mớ bòng bong kiến thức, và hiểu được cách mọi thứ tương tác, liên đới với nhau, ta tiếp cận dần đến sự khôn ngoan “wisdom”

Omission Bias – Thấy chết mà không cứu

Đọc tin tức về vụ một người lái taxi gây tai nạn đụng phải một đôi nam nữ giữa đêm khuya đang rộ lên trên mặt báo gần đây. Bên cạnh những lời thương cảm về cái chết thương tâm của cô gái trẻ sau vụ tai nạn thì cộng đồng càng tỏ ra phẫn nộ hơn vì nhiều người, kể cả tài xế đã dửng dưng bỏ mặc hai người bị nạn ở đó và bỏ đi.

Bỏ qua việc đúng sai thì câu chuyện này làm mình nhớ tới một lỗi tư duy mà mình đã từng được đọc là Omission Bias. Mình chưa biết dịch tiếng Việt cho thuật ngữ này như thế nào, nên tạm thời sẽ dùng thuật ngữ tiếng Anh cho nó.

Giả sử có hai tình huống A và B đều dẫn đến chết người. Trong tình huống A, một người cố ý sát hại một người khác. Còn trong tình huống B thì tương tự với hành vi những người dân đã bàng quang ở câu chuyện trên, thấy chết mà dửng dưng, không cứu. Và Omission Bias chính là ám chỉ trạng thái tâm lý của chúng ta có khuynh hướng xem nhẹ tính nghiêm trọng của việc “không hành động”. Trong thâm tâm mỗi người, nếu ta vô tình rơi vào tình huống thấy chết mà không cứu, thì lương tâm vẫn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn là ta cầm dao đi giết một ai đó.

Nhưng mà liệu có thực sự “nhẹ nhàng” hơn hay không khi kết quả cuối cùng vẫn là một sinh mạng bị tước đi? Có khác biệt nhiều không khi chỉ cần một cú điện thoại gọi cho bệnh viện là chúng ta đã góp phần nâng cao xác suất sống của người bị nạn, và con người ta vẫn chọn đứng nhìn?

Learning how to think

Vài suy nghĩ nhanh về việc “học cách suy nghĩ”

  • Kỹ năng “suy nghĩ”, hay còn gọi là “cách tư duy” là một trong những kỹ năng rất quan trọng quyết định sự thành bại của một con người. Tuy nhiên, rất ít trường lớp nào thực sự dạy được những kỹ năng này.
  • Suy nghĩ kém là một trong các nguyên nhân làm chúng ta bận rộn, bận rộn trong việc sửa những sai lầm tạo ra bởi chính mình.
  • Để thực sự suy nghĩ một vấn đề nào đó, bạn cần phải hoàn toàn tập trung vào nó, để cho bản thân nhập tâm vào những khía cạnh của vấn đề, từ đó lần mò hướng đến giải pháp.
  • Để suy nghĩ tốt, bạn cần phải rèn luyện và học cách nghĩ thật nhiều, nghĩ một cách có hệ thống.
  • Để suy nghĩ nhanh và hiệu quả, bạn cần phải suy nghĩ chậm, và hiệu quả trước. Sau khi đã nghĩ thuần thục thì bắt đầu tăng tốc độ cho đến một thời điểm nào đó khi nghĩ đã quen thì sẽ đạt tới trình độ nghĩ nhanhhiệu quả. Nhiều người trong chúng ta thường luyện tập theo chiều ngược lại.
  • Để suy nghĩ đúng, cần phải kiên nhẫn lắng nghe và phân tích những suy nghĩ của chính bản thân mình. Những suy nghĩ đầu tiên khi đối diện một vấn đề sẽ không chắc là một suy nghĩ đúng đắn nhất.

Problem, Recipe and Solution

Làm việc với một vài anh chị senior và học được vài điều về mối quan hệ giữa ba khái niệm này.

Recipe hay nói nôm na là “công thức”, là những khuôn mẫu/cách thức mà chúng ta hay dùng để xử lý các vấn đề xung quanh công việc và cuộc sống của mình. Ví dụ như khi gặp một tình huống bất đồng quan điểm thì một anh senior sẽ có công thức là tạm hoãn buổi họp, yêu cầu mọi người về chuẩn bị thêm data và viết ra quan điểm của mình trước rồi mới quay lại họp tiếp, một anh senior khác thì lại sẽ có cách khác, ….

Recipe thì muôn hình vạn trạng. Và dần dần theo kinh nghiệm, mỗi người sẽ đúc kết được những recipe quan trọng mà bản thân hay dùng.

Khi làm việc với các anh chị senior hơn, thứ quý giá của họ sẽ là kinh nghiệm, được biểu hiện thông qua các recipe xử lý vấn đề của họ. Cần chủ động quan sát và học hỏi họ để đúc kết thành những recipe của riêng mình.

Khi gặp vấn đề, nếu chưa biết cách giải quyết thì cần tham khảo những “recipe” từ sách vở, từ người có kinh nghiệm, sau đó phân tích và thử nghiệm để tìm ra “solution” phù hợp.

Một recipe có thể hay, nhưng không hẳn đã là “solution”.

Mỗi recipe sẽ có công dụng trong một vài hoàn cảnh cụ thể. Không nên xem một recipe nào đó là “viên đạn bạc” và áp dụng cho mọi vấn đề mắc phải.